DUYÊN TRẦM P1

Tại vùng đất hoang vu dưới chân núi Chứa Chan thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, có một nhà sư đã đến đây tu học và âm thầm nghiên cứu nuôi trồng cây Dó bầu suốt 30 năm qua với tâm nguyện mang lại lợi ích cho đời, cho người.

Là người tiên phong mang giống cây Dó bầu về trồng tại đất Đồng Nai, với thành quả lao động miệt mài không ngưng nghỉ cùng mơ ước to lớn, mảnh đất núi cằn cỗi bạt ngàn rộng 20 ha đã được sư thầy Thích Giác Nhi tạo nên vườn cây “bạc tỉ”, khả năng sinh lợi thì chưa thể tính hết. Tại đây, các cây Dó bầu đầu tiên nay đã cao đến 8-9 mét, đường kính thân cây khoảng 30cm.

Một trong những cây Dó bầu lâu năm tại vườn trầm của Sư thầy


Cơ duyên hạnh ngộ Trầm Hương

Việc “kết duyên” cùng Trầm Hương khá ngẫu nhiên. Ngày ấy, có một du khách đi tham quan đảo Phú Quốc, tình cờ ghé qua hang đá của ông. Người khách ấy tự giới thiệu là Tiến sĩ Sinh học, hai bên trò chuyện việc đạo việc đời rất tâm đắc. Biết vị tu sĩ thích trồng trọt và hoạt động từ thiện, vị khách đã khuyên ông nên trồng cây Dó bầu. Khi được nghe phân tích về giá trị kinh tế của trầm hương, là một loại sản phẩm quý hiểm có từ cây Dó, ông đã nung nấu ý định phát triển giống cây này để thực hiện ước nguyện xây một bệnh viện miễn phí cho người nghèo.

Đại đức Thích Giác Nhi bên cây dó bầu 13 năm tuổi


      Sau khi hái trái về mày mò ươm hạt, trải qua hàng chục lần thất bại Nhà sư rút ra được kinh nghiệm rằng, cây Dó thích hợp với nhiều loại đất, nhưng đất phải cao, không bị ngập úng vì quê hương của cây Dó là núi rừng đại ngàn. Hạt Dó cũng rất khó tính, hái rồi là phải ươm, gieo ngay, gieo ươm trễ một ngày thì giảm tỉ lệ nảy mầm một phần. Cuối cùng niềm hi vọng của ông cũng thành công khi những mầm Dó bầu đầu tiên đã vươn lên và phát triển tươi tốt. Năm 1992, ông quyết định đưa cây Dó bầu rời đảo. Qua tổ chức thu hái và gieo ươm, hằng năm tại đây trang trại cho ra khoảng 1 triệu cây con giống Dó bầu và được “bén rễ” sang các tỉnh thành: Ninh Thuận, Quảng Nam, Đăk Lak, Khánh Hoà, Hà Nội,…

Phát triển giống Dó bầu và bài toán của Nhà sư "kinh tế"

Trong trang trại rộng 20 ha, Cùng với việc trồng 5.000 cây dó, nhà sư trồng nhiều loại cây khác xen canh để lấy ngắn nuôi dài. Trong tịnh thất có 12 tăng, ni, trồng hoa màu xen canh mỗi năm thu được khoảng 100 triệu đồng. Nhà sư tạo điều kiện cho người dân trong thôn đến làm việc trong vườn ươm và được trả công xứng đáng. Ông thường dạy các đệ tử không những phải làm việc để tự nuôi sống mình mà còn phải giúp đỡ nhiều người khác.

Sau 10 năm trồng cây đến tuổi cho ra hạt, ông lấy hạt ươm và cho cây giống. Từ khi đưa hạt vào bầu ươm cho đến khi có cây giống bán mất 10 tháng. Cây giống dó bầu rất khan hiếm nên giá khá cao. Một cây ở nơi khác bán 7.000 đồng, riêng vườn của ông sư “kinh tế” chỉ bán 5.000 đồng. Ông tính toán: “Một cây giống, tôi chi phí 2.500đồng, bán 5.000 đồng là có lời rồi. Một năm, tôi bán ra được 1,2 triệu cây giống, lời được 3 tỉ đồng”. Ông cho biết thêm, hiện nay vườn dó có 700 cây cho quả để lấy hạt làm giống, mỗi năm thu được gần 300kg hạt, đủ khả năng sản xuất trên 2 triệu cây giống.

Zalo

Bài toán kinh tế của nhà sư không dừng lại ở đó, ông phân tích hiệu quả và tính toán chi phí đầu tư cho mỗi hécta từ năm thứ nhất đến năm thứ 15 khoảng 125 triệu đồng, khai thác và chế biến khoảng 15 triệu đồng, tổng cộng chi phí đầu tư khoảng 140 triệu đồng/hécta.

(Xem tiếp phần 2)